Một thảm hoạ da cam chưa từng có trong lịch sử loài người

Từ xa xưa, khi xuất hiện chiến tranh, người ta đã sử dụng chất độc vào mục đích quân sự. Chất độc lúc đó là các độc tố tự nhiên trong động vật, thực vật được tẩm vào các mũi tên, đầu gươm giáo. Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, người ta đã điều chế được chất độc hóa học và sản xuất ra các loại vũ khí hóa học – vũ khí giết người hàng loạt – ngày càng hiện đại.

Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), quân đội đồng minh đã sử dụng các chất hóa học làm chảy nước mắt (bromure de benzyle), làm hắt hơi (các arsines), các chất gây ngạt thở (Phosge’nes), các chất gây bỏng (Yperites), các chất làm liệt thần kinh (axit cyanhydric, cacbon oxit)…để làm mất sức chiến đấu của lực lượng vũ trang đối phương. Ngày 22/4/1915, quân Đức đã sử dụng chất độc Clo làm nhiễm độc và làm chết hàng nghìn quân Anh, Pháp; tháng 7/1917, quân Đức lại sử dụng chất Yperit trên chiến trường.

Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (1939 – 1945), quân Nhật đã sử dụng chất độc Yperite tại Trung Quốc; quân Đức đã sử dụng chất Ziclon B đầu độc các tù nhân ở các trại tập trung.

Chất độc hóa học cũng được Anh sử dụng trong chiến tranh chống quân du kích Malaysia. Các chất hóa học chủ yếu được sử dụng là một hỗn hợp các chất Na trichloro axetat (Sodium trichloro axetate STSA); 2,4-D (2,4- dichloro phenoxy acetic acid) và 2,4,5-T (2,4,5- Trichloro phenoxy acetic acid).

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ không chỉ dùng các loại bom đạn gây thương vong mà còn sử dụng cả chất độc hoá học nhằm triệt hạ nguồn sinh sống của nhân dân Việt Nam, ngăn chặn bước tiến của các lực lượng vũ trang cách mạng.

Trước phong trào nổi dậy mãnh liệt của nhân dân miền Nam, năm 1960, Tổng thông Mỹ Ai-xen-hao (Eisenhower) chủ trương tiến hành đồng thời với cuộc chiến tranh nóng cổ điển một cuộc chiến tranh hóa học ở Việt Nam. Các chỉ huy quân sự Anh, những người đã tiến hành rải chất độc hóa học ở Malaysia những năm 50 như Gerald Templer, Rob Lockhart, Robert Thomson… được mời làm cố vấn cho quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Khoảng 15 loại hóa chất được sử dụng với khối lượng lớn, nồng độ cao, biến Việt Nam thành phòng thí nghiệm khổng lồ để nghiên cứu, thử nghiệm các loại chất độc, trong đó con người thay cho các động vật thường dùng như chuột bạch, thỏ, nhằm phục vụ mục đích quân sự. Quân đội Mỹ đã sử dụng nhiều phương tiện để phun rải hóa chất, chủ yếu là máy bay C-123, UH1, các phương tiện cơ giới trên bộ, các loại lựu đạn, mìn, các máy bơm áp lực cao để phun vào các hầm trú ẩn, địa đạo.

Để che giấu dư luận, Bộ Quốc phòng Mỹ đã dùng một biệt danh là Ranch Hand (Operation Ranch Hand) và phổ biến trong quân đội Mỹ và nhân dân rằng các chất hóa học được dùng là những chất diệt cỏ, làm rụng lá thông thường; mục tiêu là để phát quang các nơi trú ẩn, đóng quân của đối phương, làm giảm thương vong cho quân đội Mỹ và đồng minh; các chất này không độc hại đối với sinh vật, không tác động đáng kể đến sức khỏe con người; không tác hại gì cho con đực (nam giới), chỉ tác động vào con cái (nữ giới) và chỉ khu trú trong 2,3 tuần đầu của thời kỳ mang thai.

Thực tế chứng minh, cuộc chiến tranh hóa học do Mỹ tiến hành ở Việt Nam là cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, gây hậu quả thảm khốc nhất trong lịch sử loài người.

Từ năm 1961(1) đến năm 1971, quân đội Mỹ đã tiến hành 19.905 phi vụ, phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học, 61% trong đó là chất da cam (2), chứa 366 kg dioxin xuống gần 26.000 thôn bản,với diện tích 3,06 triệu ha, bằng gần ¼ tổng diện tích miền Nam Việt Nam; trong đó có 86% diện tích bị phun rải hơn 2 lần, 11% diện tích bị phun rải hơn 10 lần. Chỉ riêng khu vực A Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế, theo tài liệu do Bộ Quốc phòng Mỹ công bố, khối lượng chất da cam rải xuống đây khoảng 434.812 gallon, với một lượng dioxin khoảng 11 kg trong khoảng thời gian từ năm 1965 – 1970.

Chất độc da cam đã tác động mạnh mẽ, lâu dài tới môi trường, các hệ sinh thái và sức khỏe con người.

Với một lượng khổng lồ chất độc hóa học phun rải lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, môi trường bị ô nhiễm nặng nề, các hệ sinh thái bị đảo lộn; chức năng giữ nước chống lụt của rừng bị suy giảm; đa dạng sinh học bị suy thoái và trở nên nghèo nàn; một số loài động vật thực vật quý hiếm bị tuyệt chủng; các loài gậm nhấm và cỏ dại phát triển. Hệ thống rừng ngập mặn ở miền Nam, nhất là ở Rừng Sác, phía Đông Bắc Thành phố Hồ Chí Minh và ở huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau bị phá hủy nặng nề; vai trò của rừng ngập mặn trong giữ đất, lấn biển bị giảm sút.

Tại các sân bay quân sự Mỹ trước đây dùng để lưu giữ, pha trộn, tiêu hủy chất độc hóa học, nồng độ dioxin vẫn còn cao hay rất cao, đặc biệt là các sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa và Phù Cát. Năm 2011, nồng độ dioxin trong khu ô nhiễm tại sân bay Biên Hòa cao nhất là 963.000 tpp – TEQ; trong máu của một người dân kinh doanh và thu hoạch hải sản bị nhiễm dioxin tại đây là 2.020 tpp – TEQ (ở một số nước công nghiệp phát triển nồng độ cho phép trong máu là từ 0,4 đến 0,7 tpp – TEQ).

Chất độc da cam (CĐDC) đã làm cho 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm (3), hơn 3 triệu người là nạn nhân(4), với biết bao thảm cảnh không sao kể xiết. Hàng trăm nghìn nạn nhân đã chết, hàng trăm nghìn người đang vật lộn với bệnh tật hiểm nghèo. Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam và thế giới cho thấy chất độc da cam/dioxin có khả năng gây tổn thương đa dạng và phức tạp trên tất cả các bộ máy sinh lý của cơ thể, gây ung thư da, tổn thương da, gan, tuyến giáp, đái tháo đường; làm tổn thương hệ thống hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, nội tiết, thần kinh; có vai trò quan trọng gây đột biến gen và nhiễm sắc thể, từ đó gây nên các dị tật bẩm sinh, các tai biến sinh sản. Các bệnh phổ biến ở con, cháu nạn nhân CĐDC là liệt hoàn toàn hay một phần cơ thể, mù, câm, điếc, thiểu năng trí tuệ, tâm thần, ung thư, dị dạng, dị tật bẩm sinh(5).

Đặc biệt là CĐDC có thể di truyền qua nhiều thế hệ và ở Việt Nam, di chứng da cam đã truyền sang thế hệ thứ 4.

Thống kê chưa đầy đủ, hiện cả nước có hơn 150.000 nạn nhân thuộc thế hệ thứ 2; 35.000 nạn nhân thuộc thế hệ thứ 3; 2.000 nạn nhân thuộc thế hệ thứ 4.

Ở nhiều tỉnh, trong số nạn nhân có trên một nửa là dân thường (Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, tỉ lệ dân thường so với tổng số nạn nhân là 70,7%, 75,4%, 67,9%); 85% số hộ có 2 nạn nhân trở lên, 3% số hộ có 5 nạn nhân. Có gia đình cả 15 người con đều là nạn nhân CĐDC(6).

Đời sống vật chất, tinh thần của nạn nhân còn rất khó khăn, thiếu thốn, nhất là những gia đình có nhiều nạn nhân, nhiều thế hệ nạn nhân, nạn nhân bị bệnh nặng, bệnh thường xuyên tái phát, sinh con dị dạng, dị tật, thiểu năng trí tuệ, các nạn nhân là dân thường không còn khả năng sản xuất, không có nguồn thu. Đa số thuộc hộ nghèo (tỉ lệ hộ gia đình nạn nhân nghèo chiếm khoảng 50 – 60%, vùng sâu vùng xa 70%). Mức chi phí nuôi dưỡng, chữa bệnh cho nạn nhân rất lớn, vượt ra ngoài khả năng thanh toán của gia đình. Có thể nói “Nạn nhân chất độc da cam là những người nghèo nhất trong những người nghèo, những người đau khổ nhất trong những người đau khổ”

Không chỉ người Việt Nam mà nhiều lính Mỹ, Hàn Quốc, Australia, New Zealand…từng tham chiến ở Việt Nam trước đây cũng mắc nhiều bệnh tật do phơi nhiễm CĐDC. Theo Đô đốc Elmo Zumwalt – nguyên Tư lệnh các lực lượng Hải quân – Không quân Mỹ ở Việt Nam (1968 – 1970), có ít nhất 2,6 triệu lượt binh sĩ Mỹ bị phơi nhiễm CĐDC. Theo Hội Cựu chiến binh thương tật do chất da cam Hàn Quốc, có 100 nghìn/300 nghìn lượt binh sĩ Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam là nạn nhân, trong đó có 20 nghìn người đã chết.

(1) Chuyến bay đầu tiên phun rải chất độc hóa học dọc theo quốc lộ 14 nằm ở phía Bắc thị xã Kom Tum do máy bay trực thăng H34 thực hiện ngày 10/8/1961.

(2) Ngoài chất da cam (Agent Orange), Mỹ còn sử dụng chất trắng (Agent White), chất xanh (Agent Blue), chất tím (Agent Purple), chất hồng (Agent Pink), chất xanh mạ (Agent Green), chất CS, chất Malation và nhiều chất khác nữa.

(3) Người bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin là người tiếp xúc và bị chất độc này xâm nhập vào trong cơ thể; có thể bị phơi nhiễm do bị phun rải trực tiếp trong thời kỳ chiến tranh hoặc ở vùng có tồn lưu dioxin cao trong môi trường do bị lan tỏa, ô nhiễm tại các điểm tập kết, lưu trữ chất độc hóa học.

(4) Nạn nhân CĐDC là những người bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, bị bệnh tật, suy giảm khả năng lao động, hoặc vô sinh, hoặc có con cháu dị dạng, dị tật và con, cháu, chắt của họ chịu hậu quả sinh học của sự phơi nhiễm đó, bị suy giảm khả năng lao động, dị dạng, dị tật.

(5) Ngày 20/2/2008, Bộ Y tế ra Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT ban hành danh mục 17 bệnh tật dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm chất độc hóa học/dioxin, gồm:1. Ung thư phần mềm (Soft tissue sarcoma); 2. U lympho không Hodgkin (Non-Hodgkin’s lymphoma) 3. U lympho Hodgkin (Hodgkin’s disease); 4. Ung thư phế quản – phổi (Lung and Bronchus cancer); 5. Ung thư khí quản (Trachea cancer); 6. Ung thư thanh quản (Larynx caner); 7. Ung thư tiền liệt tuyến (Prostate cancer); 8. Ung thư gan nguyên phát (Primary liver cancers); 9. Bệnh đa u tủy xương ác tính (Kahler’s disease); 10. Bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính và bán cấp tính (Acute and subacute peripheral neuropathy); 11. Tật gai sống chẻ đôi (Spina Bifida); 12. Bệnh trứng cá do clo (Chloracne); 13. Bệnh đái tháo đường type 2 (Type 2 Diabetes); 14. Bệnh Porphyrin xuất hiện chậm (Porphyria cutanea tarda); 15. Các bất thường sinh sản (Unusual births); 16. Các dị dạng, dị tật bẩm sinh (đối với con của người bị nhiễm chất độc hóa học/dioxin); 17. Rối loạn tâm thần(Mentaldisorders).

(6) Ông bà Đỗ Đức Địu – Phạm Thị Nức ở thôn Hà Thiệp, Võ Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình có 15 người con đều là nạn nhân CĐDC; hiện chỉ có 3 con còn sống.