Vụ kiện của nạn nhân chất độc da cam Việt Nam

Tại tòa sơ thẩm

Ngày 30/1/2004, nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đưa đơn kiện ra Tòa sơ thẩm Liên bang Hoa Kỳ (Đông New York). Vụ kiện mang ký hiệu 04-CV0400 thuộc hệ thống vụ kiện MDL381.

Vụ kiện được tiến hành bởi một nhóm luật sư Hoa Kỳ. Theo luật Hoa Kỳ, Chính phủ Hoa Kỳ được hưởng quyền miễn tố nên vụ kiện nhằm vào các bị đơn là là các công ty hóa chất Hoa Kỳ.

Vụ kiện được tiến hành dựa vào Đạo luật liên quan Hành vi xâm phạm người nước ngoài (ACCA), với lập luận rằng “Các công ty đã sản xuất chất diệt cỏ và đem sử dụng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam là “vi phạm luật quốc tế”, là “tội ác chiến tranh”; và thể theo thông luật về trách nhiệm đối với các sản phẩm, về hành vi tắc trách, về lỗi xâm phạm cố ý, về hành vi câu kết dân sự, về gây phiền toái công cộng và về làm giàu bất chính; đòi bị đơn phải bồi thường về những tổn thương gây ra cho các cá nhân, gây ra những cái chết oan uổng, những tổn thương bẩm sinh; đồng thời đòi bị đơn phải bị cưỡng chế tiến hành khử độc môi trường và phải giao lại các lợi nhuận”

1. Nguyên đơn chính của vụ kiện liên quan đến 11 gia đình và 27 nạn nhân Việt Nam với tư cách là cá nhân hoặc gia đình và Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam đại diện cho đông đảo nạn nhân. Do vậy, theo luật Hoa Kỳ, tính chất của vụ kiện này là vụ kiện dân sự. tập thể (class action).

27 nạn nhân là: Phan Thị Phi Phi, Nguyễn Văn Quý, Vũ Thị Loan, Nguyễn Quang Trung, Nguyễn Thị Thúy Nga, Dương Quỳnh Hoa, Huỳnh Trung Sơn, Hồ Kan Hai, Nguyễn Văn Hoàng, Hồ Thị Lê, Hồ Xuân Bạt, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Sơn Lĩnh, Nguyễn Sơn Trà, Võ Thanh Hải, Nguyễn Thị Hoa, Võ Thanh Tuấn Anh, Nguyễn Mười, Nguyễn Đình Thành, Đặng Thị Hồng Nhựt, Lê Thị Vinh, Nguyễn Thị Nhâm, Nguyễn Minh châu, Nguyễn Thị Thời, Nguyễn Long Vân, Tống Thị Tứ, Nguyễn Thắng Lợi.

2. Bị đơn bao gồm tất cả các công ty và chi nhánh công ty có liên quan đến chất da cam, trước hết là 36 công ty hàng đầu là: The Dow Chemical Company, Monsanto Company, Monsanto Chemical Company, Pharmacia Corporation, Hercules Incorporated, Occidental Chemical Corporation, Ultramar Diamond Shamrock Corporation, Maxus Enegry Corporation, Thompson Hayward Chemical Company, Harcros Chemical INC, Uniroyan INC, Uniroyal Chemical INC, Uniroyal Chemical Holding Company, Uniroyal Chemical Acquisition Corpration, C.D.U. Holding INC…

3. 12 tội liên quan đến Bị đơn chiểu theo luật Hoa Kỳ gồm: Tội ác chiến tranh; diệt chủng; tội chống nhân loại; tra tấn; hành hung; cố ý gây tổn thương tinh thần; gây tổn thương tinh thần do tắc trách; tắc trách; gây chết oan uổng; trách nhiệm sản phẩm; gây phiền toái công cộng; làm giàu bất chính.

4. Luật và cơ sở pháp lý áp dụng cho vụ kiện gồm: Đạo luật chống xâm phạm người nước ngoài; Đạo luật bảo vệ nạn nhân bị tra tấn; Đạo luật chống tội ác của Hoa Kỳ; Nghị định thư Geneva 1925; Điều 23 Phụ lục Công ước Hague IV-1907; Công ước Geneva 1949 về bảo vệ dân thường trong chiến tranh; Hiệp định về tội phạm chiến tranh của khối trục Châu Âu và Hiến chương của Tòa án Quốc tế tại Nuremberg 1945; Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945; Nghị quyết Đại hội đồng LHQ số 2603-A (1969); Luật tập quán quốc tế; Luật án lệ của Hoa Kỳ; Luật Việt Nam; Luật án lệ của Tiểu bang New York…

5. Nội dung Nguyên đơn yêu cầu Tòa án bảo vệ là:

– Bồi thường bằng tiền mặt;

– Phạt tiền;

– Tuyên bố có tội và cưỡng chế;

– Chịu trách nhiệm trả các tốn phí của vụ kiện.

6. Lộ trình của vụ kiện:

– Ngày 30/1/2004, Nguyên đơn đưa đơn khiếu kiện

– Ngày 18/3/2004, Tòa tổ chức phiên điều trần đầu tiên do Thẩm phán Jack Weinstein chủ trì (Thẩm phán này đã được Hội đồng Thẩm phán Hoa Kỳ giao trách nhiệm xử tất cả các vụ kiện liên quan đến chất da cam, khởi đầu là vụ kiện của các cựu chiến binh Hoa Kỳ). Phiên điều trần này chủ yếu giải quyết vấn đề điều tra phát hiện dành riêng cho vụ kiện của nạn nhân Việt Nam.

– Ngày 3/11/2004, Bị đơn trình các văn bản đề nghị bác bỏ vụ kiện. Bị đơn cho rằng vụ kiện đã hết thời hiệu; yêu cầu của Nguyên đơn về lệnh cưỡng chế, buộc Bị đơn tiến hành tẩy độc ở Việt Nam là không thực tế (vì Tòa không thể giám sát việc thực thi- đã có tiền lệ với vụ Bhopal) và xâm phạm chủ quyền Việt Nam, “làm tổn hại đến quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đang phát triển nhưng còn mong manh và ảnh hưởng xấu đến chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam”. Yêu cầu xét xử theo luật quốc tế là không có căn cứ vì Nguyên đơn đã không chứng minh được Bị đơn có vi phạm luật quốc tế. Yêu cầu kết tội Bị đơn là vi phạm lý thuyết tam quyền phân lập và quyền/ khả năng tiến hành chiến tranh của Chính phủ.

– Ngày 18/1/2005, Nguyên đơn trình Tòa các văn bản phản biện lập luận của Bị đơn đòi bác bỏ vụ kiện.

– Ngày 28/2/2005, các bên gặp nhau tại phiên tranh tụng miệng. Tại đây, Jack Weinstein yêu cầu Chính phủ Hoa Kỳ có văn bản trình bày quan điểm của mình về việc tại sao Tư pháp Mỹ không có quyền xét xử các hành động của Hành pháp.

– Ngày 10/3/2005, Jack Weinstein ra phán quyết dày 233 trang bác bỏ vụ kiện. Cho rằng việc sử dụng chất hóa học này trong chiến tranh, mặc dù độc hại, nhưng theo ông ta, nó không áp dụng với khái niệm về “chất độc” và do đó không vi phạm Luật quốc tế. Ông kết luận:” Không có một căn cứ nào làm cơ sở cho bất cứ khiếu nại nào của Nguyên đơn thể theo luật nội bộ của bất cứ quốc gia hay nhà nước nào hay bất cứ luật quốc tế nào. Vụ kiện bị bác bỏ không bên nào phải thanh toán bất cứ tốn phí nào” (trang 233)

Tại Tòa phúc thẩm

Ngày 8/4/2005, Nguyên đơn đã trình yêu cầu được kháng cáo lên Tòa án phúc thẩm số 2 (TPT).

– Ngày 6/2/2006, Bị đơn trình Tòa văn bản đáp lại kháng cáo. Họ cũng trình Tòa văn bản liên quan đến lập luận Nhà thầu chính phủ với niềm tin rằng có thẻ giúp họ tránh được trách nhiệm pháp lý do tác hại của chất da cam đối với cựu chiến binh Hoa Kỳ và người Việt Nam.

– Ngày 22/3/2006, Nguyên đơn trình Tòa văn bản đáp lại lập luận của Bị đơn đòi bác bỏ kháng cáo.

– Ngày 18/4/2006, Nguyên đơn trình bày văn bản kháng cáo sửa đổi, lập luận rằng với mức độ và cách thức phun rải, chất diệt cỏ trên thực tế đã trở thành chất độc.

– Ngày 18/6/2007, Phiên tòa tranh tụng miệng được tổ chức tại TPT lúc 1 giờ chiều.

– Ngày 22/2/2008, TPT ở Manhattan, New York ra phán quyết bác kháng cáo của Nguyên đơn Việt Nam trên cơ sở khẳng định phán quyết của Jack Weinstein.

Các thẩm phán TPT vẫn tiếp tục phớt lờ sự thật, nói rằng Nguyên đơn đã không thể chứng minh được chất diệt cỏ có sử dụng trong chiến tranh Việt Nam là vi phạm điều cấm sử dụng chất độc trong chiến tranh và trong thực tế chất da cam được sử dụng để bảo vệ binh sĩ Mỹ khỏi bị phục kích chứ không phải là một loại vũ khí chống con người.

Tại Tòa án Tối cao Hoa Kỳ (TTC)

– Ngày 6/10/2008, Nguyên đơn Việt Nam nộp đơn lên TTC

– Ngày 2/3/2009, TTC thông báo danh sách các vụ kiện bị từ chối xem xét lại, trong đó có vụ kiện chất độc da cam của Việt Nam, vì Thẩm phán John Paul Stevens được giao nhiệm vụ xét xử đã tuyên bố thoái thác vì lý do cá nhân (rescued) nhưng không nói rõ vì lý do gì.

Kết luận

1. Vụ kiện của nạn nhân chất độc da cam Việt Nam là vụ kiện có một không hai trong lịch sử tư pháp Hoa Kỳ.

Nếu vụ kiện thành công thì không những toàn bộ ngành công nghiệp hóa học Mỹ có thể bị phá sản vì khoản bồi thường sẽ là rất lớn mà còn làm cho toàn bộ ngành công nghiệp vũ khí và nhiều ngành công nghiệp khác phải lao đao bởi các vụ kiện của các nạn nhân vũ khí Hoa Kỳ trên toàn thế giới. Đồng thời, như chính Bộ Tư pháp Hoa Kỳ thừa nhận, vụ kiện thành công sẽ ngay lập tức làm rối loạn hệ thống chỉ huy và điều hành chiến tranh của Hoa Kỳ trong tương lai…

2. Tòa án Mỹ đã dựa vào 2 cơ sở chính để từ chối vụ kiện:

Một là, chưa có bằng chứng khoa học “đầy đủ” cho thấy chất diệt cỏ gây ra các bệnh tật.

Hai là, nếu chất diệt cỏ có độc thì đó là do tình cờ chứ không phải là do “cố ý”.

Hai cơ sở đó đã bị bác bỏ và phản biện rất khoa học không chỉ bởi các luật sư mà còn bởi nhiều nhà khoa học. Như vậy, vụ kiện đã trở thành hòn đá thử vàng đối với nền dân chủ Mỹ mà họ vẫn tự hào.

3. Tòa án Mỹ đã không còn có thể đóng vai kẻ vô tư và người cầm cán cân công lý. Ở một vài điểm, họ có vẻ như khách quan, bác bỏ một số lập luận của Bị đơn hay của Chính phủ Mỹ, nhưng lập trường này không hề làm thay đổi bản chất của họ là công cụ của các nhà tư bản Hoa Kỳ.

Vì vậy, vụ kiện đã làm sâu sắc thêm nhận thức của nhân dân thế giới về nền dân chủ Hoa Kỳ, đặc biệt là đối với bản chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Vụ kiện đã thành công trong việc:

– Thu hút sự quan tâm chú ý của dư luận quốc tế và dư luận Mỹ đối với một việc làm mà Chính phủ Mỹ đã tìm mọi cách che dấu, lấp liếm (ngăn cản các công trình nghiên cứu thực sự khoa học và bỏ ra một ít tiền để xoa dịu các cựu chiến binh Mỹ).

– Động viên và thúc đẩy cuộc đấu tranh vì công lý của toàn thế giới, đặc biệt là cuộc đấu tranh đòi bồi thường của các cựu chiến binh Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Úc, Tân Tây Lan, Canada…

– Những nội dung tranh luận công khai tại Tòa làm cho vấn đề da cam không chỉ là vấn đề công lý mà còn là vấn đề nhân đạo, nhân văn, nhân quyền; là vấn đề tiến bộ và phản tiến bộ xã hội, phát triển và phản phát triển, hòa bình và chiến tranh; là món nợ lịch sử mà Hoa Kỳ không thể thoái thác; là lời cảnh nguy cơ tái diễn chiến tranh hóa học, lời kêu gọi thôi thúc hình thành mặt trận quốc tế đấu tranh việc sản xuất, tàng trữ và sử dụng vũ khí hóa học, bảo vệ Trái đất xanh, bảo vệ cuộc sống hòa bình và hạnh phúc của loài người.

– Mặc dù Tòa án Mỹ có phán xét phi lý, bất chấp công lý và đạo lý, nhưng Chính phủ Mỹ, Quốc hội Mỹ và dư luận Mỹ không thể làm ngơ trước những hậu quả khủng khiếp do họ gây ra trong chiến tranh Việt Nam và đã có sự chuyển biến về nhận thức vấn đề da cam và có những động thái bước đầu tham gia giải quyết vấn đề da cam.

Related Posts

About The Author

Add Comment